Cồng chiêng Tây Nguyên - thành tố quan trọng của không gian văn hóa Tây Nguyên 2
TS Trần Văn Bính, năm 1943, 2 năm trước khi cách mạng tháng Tám bùng nổ, Đảng đã cho ra đời bản Đề cương Văn hóa.
Ảnh: Hoàng Long 1. Thế mà chúng ta làm được bao lăm.
PGS. Do đó, giờ đây chúng ta đang đối mặt với nguy cơ phải sửa chữa những cái chưa đạt ấy bằng vài ba đời. Cả hai văn kiện này đều tả tư độc nhất quán của Đảng về vấn đề văn hóa, cho dù được ban bố ở hai thời khắc khác nhau. TS Nguyễn Chí Bền cho rằng: Vấn đề là phát triển những tư tưởng ấy sao cho hạp với cuộc sống hôm nay. Sự xuống cấp về đạo đức từng lớp, làm lòng người thấy bất an, có cảm giác chúng ta đang sống trong xã hội hòa mình mà chẳng thấy thái bình.
Bởi xét cho cùng, làm cách mệnh bản chất là phóng thích con người, là tạo điều kiện để hoàn thiện và phát triển nhân tố con người. GS Phong Lê cho rằng: Dẫu văn hóa là quan niệm rộng hoặc hẹp, thì tư tưởng xuyên suốt của Đề cương Văn hóa 1943 đã đáp ứng kịp thời nhu cầu bức thiết của cuộc sống ở thời khắc ấy, và vẫn là tầm nhìn chiến lược của cuộc sống bữa nay.
TS Đào Duy Quát cho rằng: Quan niệm về văn hóa ở thời khắc bây giờ cần phát triển mở mang hơn nữa theo hướng coi văn hóa là quờ quạng giá trị vật chất, ý thức do lao động của con người sáng tạo và tích lũy lại, tạo nên bản sắc của từng dân tộc và của từng tầng lớp. PGS
Xin đừng đổ lỗi cho cơ chế thị trường, những bộc lộ xuống cấp đạo đức trong tầng lớp, trong một bộ phận cán bộ, Đảng viên có từ trước đó rồi. Dẫu vậy, tình cảnh giang sơn bữa nay đang đặt ra những vấn đề mới mẻ mà năm 1943 và năm 1998 chưa xuất hiện.
Quyết nghị Trung ương 5 cũng xác định coi tư tưởng, lối sống là chủ chốt của văn hóa, mà trong đó cao cả nhất là con người. Thành ra, cần sớm có những điều chỉnh về đường hướng phát triển và quản lý văn hóa cho thích hợp. Nay tỉ lệ nghịch với những chính sách phát triển văn hóa, thực trạng đạo đức, lối sống của một bộ phận không ít người trẻ trong xã hội xuống cấp ở mức báo động, đó là điều đáng để các nhà quản lý phải nghĩ ngợi.
TS Nguyễn Chí Bền - Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam cho rằng: Trong sự nghiệp lãnh đạo văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam có hai văn kiện tiêu biểu. Đồng tình với ý kiến này, PGS. Thứ nhất là Đề cương Văn hóa 1943, hai là quyết nghị Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiền tiến đượm đà bản sắc dân tộc”.
Đó là "thiên nhiên thứ hai” do con người sáng tạo ra. Những đặc điểm của cuộc sống hôm nay đặt ra không ít cơ hội, nhưng cũng không ít thách thức cho vấn đề xây dựng và phát triển con người Việt Nam, với cả 3 mặt: chủ thể sáng tạo, khách thể thu nạp và bản thân mang trên mình những giá trị văn hóa của dân tộc.
Nhà báo Hữu Thọ: Sớm điều chỉnh đường hướng phát triển văn hóa cho hiệp Bàn về văn hóa, vấn đề bây chừ mà tôi quan hoài nhất là nhìn lại 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) chúng ta đã có được những kết quả gì? Nói một cách chính trực, những việc chúng ta làm đều chưa đạt đề nghị.
Bản Đề cương Văn hóa 1943 với 3 nội dung, 3 phương châm chủ đạo: dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa
Đây là bản tuyên ngôn đầy đủ nhất trước hết của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc xây dựng một nền văn hóa mới trên giang san ta. Mọi câu hỏi vẫn đang ở phía trước, mà thế hệ bữa nay phải trả lời… 3.
Hồ hết các ý kiến tại hội thảo đều chung một nhận định: Mặc dù mới chỉ vạch ra những nét đại cương, định hướng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhưng Đề cương Văn hóa Việt Nam đã đích thực trở nên cơ sở lý luận và thực tế khôn xiết quan trọng, đặt nền tảng cho các ý kiến, chủ trương, chính sách tiếp theo của Đảng về văn hóa, văn nghệ.
Ở thời khắc ấy, Đề cương không chỉ nhằm đương đầu trực diện chống văn hóa ngu dân, phản dân tộc, phản đại chúng của thực dân Pháp đang áp đặt ở Việt Nam, mà còn phản ảnh được qui luật vận động và phát triển của văn hóa. Theo GS. Qua phương châm "dân tộc hóa” của Đề cương Văn hóa, và với sự thành lập Hội Văn hóa cứu quốc, gần như đại bộ phận hàng ngũ trí thức khoa học và nghệ thuật của dân tộc đều hướng về cách mệnh và tham gia cách mạng.
Giả dụ ở những thời kỳ trước đó, Đảng ta nhấn mạnh khuôn khổ và nội hàm của văn hóa cốt yếu ở lĩnh vực mẫn cảm, nhất là văn học, nghệ thuật (gọi tắt là văn nghệ), và đời sống văn hóa cụ thể, thì ở quyết nghị Trung ương 5 (khóa VIII), lần trước tiên khuôn khổ và nội hàm về văn hóa được đề cập gồm 8 lĩnh vực rộng lớn, không chỉ là văn nghệ mà là cả việc xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống, phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, hệ thống thông báo, đại chúng, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số, chính sách đối với đạo, mở rộng cộng tác quốc tế về văn hóa, hoàn thiện thể chế văn hóa… Và với sự khẳng định "văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là đích, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH…”, chưa bao giờ mối quan hệ tác động mật thiết giữa kinh tế và văn hóa lại được nhấn mạnh như ở quyết nghị Trung ương 5, khóa VIII.
Hương Lê. Đặc biệt, trong tình thế khốn cùng của nhân dân vào đầu những năm bốn mươi về trước, các tầng lớp trí thức của dân tộc cũng đều bị đẩy đến thế cùng. Chia sẻ băn khoăn về những diễn tả suy thoái đạo đức, lối sống hiện thời trong cộng đồng, mà đặc biệt là trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên… theo ông Vũ Ngọc Hoàng - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Ban túc trực Ban Tuyên giáo Trung ương, ở cả một thời kỳ dài trước đó, với các nhà lãnh đạo, các chính khách, thì mối quan hoài đến văn hóa, đến sự nghiệp phát triển văn hóa luôn có một vị trí ưu tiên đặc biệt.
Chủ nghĩa xã hội theo các nhà kinh điển mácxít là một hình thái phát triển cao về văn hóa, lịch sử. Như vậy, có thể nói sau 70 năm thực hành Đề cương Văn hóa Việt Nam, rồi sau 15 năm thực hiện quyết nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa, cho đến nay, hai văn kiện nói trên của Đảng về văn hóa vẫn có nhựa sống cả về mặt lý luận cùng thực tiễn.
No comments:
Post a Comment