” Bà Nguyễn Thị Dân cho rằng, đối lượng lao động di trú hiện phần đông là lao động trẻ với nhu cầu thành hôn, sinh con nên mong muốn về nhà ở ổn định sẽ tăng mạnh trong thời kì tới
Thành ra, trong quá trình quy hoạch cũng cần nghiên cứu rõ mong muốn, yêu cầu thực tại của lao động thiên cư để xây dựng các khu nhà ở sao cho thích hợp và có tính vững bền, lâu dài.
Có tới 67,1% người cần lao xung khắc phục khó khăn; 18,5% nhờ bạn bè, đồng hương trợ giúp và 15,7% nhờ họ hàng. Bà Nguyễn Thị Dân, Trưởng phòng cần lao-Việc làm-Tiền lương (Sở lao động-Thương binh và tầng lớp thị thành Hồ Chí Minh) cũng cho rằng nhà ở đang là nhu cầu cấp thiết nhất đối với lao động di trú.
Bên cạnh đó, các Trung tâm không chỉ cung cấp thông tin về thị trường cần lao mà còn cần thông báo về đời sống từng lớp nơi lao động sẽ thiên cư đến để họ chuẩn bị cho một cuộc sống mới.
Không hỗ trợ kiểu “chữa cháy” Kết quả nghiên cứu cho thấy rất ít lao động nhận được sự tương trợ từ các tổ chức tầng lớp, cơ quan quốc gia để khắc phục khó khăn khi di trú. Theo ông Đặng Đình Long, “ngành lao động không thể chỉ đi ‘chữa cháy’ mà phải được dự vào từ việc quy hoạch các khu công nghiệp đến hoạch định chính sách phát triển dài hạn của địa phương để kịp thời xây dựng những chính sách cho cần lao trước và sau khi thiên di.
Chính vì những khó khăn về nhà ở, tích lũy hạn chế khiến đại phần nhiều lao động thiên di không có định hướng lâu dài cho công việc của họ, gần 60% cần lao di cư không biết dự kiến sẽ sinh sống ở địa phương nơi làm việc trong bao lâu và chỉ có 7,5% lao động quyết định sẽ định cư hẳn.
000 USD. Mong muốn được tương trợ nhiều nhất đối với cần lao di cư là tìm nhà ở/thuê giá rẻ. ” Bà Nguyễn Thị Dân thì nhấn mạnh: “quan yếu nhất là làm sao để cần lao thiên di có tổ chức, không để tình trạng cả nơi lao động đến và đi đều không được tương trợ.
Bây chừ, việc hoạch định chính sách dành cho cần lao di cư của ngành cần lao-Thương binh và tầng lớp vẫn chỉ dừng ở mức hỗ trợ cần lao sau khi di cư.
Dự án "Tình hình chuyển di lao động từ nông thôn ra đô thị và các khu công nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO" do Chương trình hỗ trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO (B-WTO) hỗ trợ và Cục Việc làm (Bộ cần lao-Thương binh và Xã hội) thực hiện tại 15 tỉnh, thành phố có nhiều lao dộng di trú đến. Hồng Kiều (Vietnam+). Theo ông Đặng Đình Long, Giám đốc trọng tâm Phát triển Xã hội và Môi trường Vùng (CERSED) thì ở các khu công nghiệp, khó khăn lớn nhất mà cần lao di cư gặp phải là nhà ở.
Dự án sẽ cung cấp những nghiên cứu, đánh giá, đề xuất hoàn thiện các chính sách để quản lý và tương trợ cho cần lao thiên cư, đặc biệt là cần lao nông thôn di trú.
” Nhất trí với quan điểm của bà Nguyễn Thị Dân, ông Lê Quang Trung-Cục phó Cục Việc làm (Bộ cần lao-Thương binh và Xã hội) cũng cho rằng cần phải nâng cao vai trò của các trọng điểm giới thiệu việc làm trong việc quản lý cần lao.
/. Bởi vậy, cần phải có những cơ chế quản lý đặc thù cho những địa phương tiếp nhập số lượng lớn cần lao thiên di tới để có thể có thêm nguồn đầu tư phục vụ cả lao động di cư. (Ảnh minh họa: Hoàng Hùng/TTXVN) [ 50% lao động đã có việc làm vẫn di cư tới thành thị ] Đây là những kết quả của dự án “Tình hình di chuyển cần lao từ nông thôn ra thị thành và các khu công nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO” được Bộ lao động-Thương binh và tầng lớp công bố sáng ngày 26/8.
Đối với vấn đề xây dựng chính sách hỗ trợ lao động di trú, bà Nguyễn Thị Kim Oanh, Giám đốc Sở cần lao-Thương binh và Xã hội Bình Dương cho rằng cần phải đổi thay việc phân bổ ngân sách địa phương tính theo hộ khẩu, dân số địa phương đối với những nơi có nhiều lao động thiên di tới. Các chuyên gia cho rằng cần phải xây dựng một chu trình hỗ trợ khép kín từ khi cần lao chuẩn bị di trú khỏi địa phương đến khi tìm được việc và ổn định cuộc sống.
/. Theo bà Nguyễn Thị Kim Oanh, ngân sách đầu tư cở sở vật chất, dịch vụ từng lớp các tỉnh thường chỉ bảo đảm phục vụ dân số địa phương chứ chưa tính đến cả những nhu cầu của lao động thiên di nên những nơi có nhiều khu công nghiệp thường hay bị quá tải về nhà ở, dịch vụ y tế, giáo dục. Dư án được thực hành từ tháng 4/2012 đến tháng 8/2013, với tổng kinh phí hơn 320. Bây chừ, các trọng điểm giới thiệu việc làm chưa thống kê được xác thực số lượng cần lao thiên di và nhập cư nên việc bảo vệ nhóm lao động này khi có rủi ro là rất khó khăn.
Các chuyên gia nhận định, những kết quả nghiên cứu của dự án là tư liệu quan trọng để những người xây dựng chính sách sao cho đi vào thực tế và có tính khả thi cao, hạp với điều kiện của từng vùng miền, địa phương.
Đặc biệt, hơn 85% cần lao di trú phải trả tiền điện, nước sinh hoạt theo giá của chủ nhà và cao gấp 2-3 lần giá theo quy định. Tiền thuê nhà, điện nước sinh hoạt chiếm tới 23% thu nhập của người cần lao. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Dân cũng nhấn mạnh: “thực tiễn có rất nhiều lao động không muốn ở các khu nhà giá rẻ dành cho công nhân mà muốn thuê nhà bên ngoài ở vì họ có con nhỏ, không muốn bị quản lý theo quy chế do công ty đặt ra.
Từ những kết quả của dự án, các chuyên gia, đại biểu từ các địa phương đã đưa ra những góp ý để việc hoạch định chính sách tương trợ nhóm cần lao thiên di từ nông thôn ra đô thị, các khu công nghiệp có tính khả thi cao và sát với nhu cầu thực tại. “Kết quả nghiên cứu đã đặt ra một yêu cầu mới trong hoạch định chính sách, đó là có tới 47% số lao động di cư đã hôn phối; trong đó 31,8% lao động thiên cư sống với vợ, chồng và 14,5% sống với con cái, Vì vậy, họ sẽ muốn ở lại ổn định hơn và là đối tượng cần được chú ý để xây dựng chính sách tương trợ về nhà ở tốt hơn,” ông Đặng Đình Long nói.
Thiếu nhà ở vẫn “nóng” Theo kết quả nghiên cứu của dự án, vấn đề thiếu nhà ở vẫn là nỗi khó khăn lớn nhất đối với cần lao di trú, có tới 86,3% cần lao di cư phải thuê nhà ở và chỉ có 2,9% đã mua được nhà.
No comments:
Post a Comment