Tuesday, October 8, 2013

Một số vấn đề cần cách làm lưu ý.

Đây là những biểu lộ của tình trạng “thương mại hóa” các dịch vụ công đã bị phê phán gay gắt trong nhiều năm qua

Một số vấn đề cần lưu ý

Thực tiễn tại nhiều bộ, ngành chừng độ tự chủ của các đơn vị đều cao hơn so với chừng độ tự chủ tính theo dự toán giao, một số đơn vị mức độ tự chủ thực tiễn cao hơn nhiều so với dự toán, điều này dẫn đến các đơn vị phát triển hoạt động dịch vụ không có định hướng, các điều kiện pháp lý cần thiết không được chuẩn bị đầy đủ, nên hoạt động không hiệu quả, không cân đối được chi thu, không bảo toàn được tài sản quốc gia.

Nguồn: internet Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng thì dịch vụ công bao gồm: Dịch vụ hành chính công; Dịch vụ sự nghiệp công và Dịch vụ công ích, trong đó Dịch vụ sự nghiệp công bao gồm: các hoạt động cung cấp phúc lợi tầng lớp cần yếu cho người dân như: văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, thể dục thể thao, an sinh xã hội… khuynh hướng chung hiện thời là quốc gia chỉ thực hiện những dịch vụ nào mà tầng lớp chẳng thể làm được hoặc không muốn làm, nên nhà nước đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại dịch vụ này cho khu vực tư nhân và các tổ chức tầng lớp.

Trong việc thực hiện chính sách phí và lệ phí, vừa có tình trạng chưa thu đúng, thu đủ, lại vừa có tình trạng tự đặt ra những khoản thu ngoài quy định, lạm thu, cơ chế dùng không minh bạch, không hiệu quả, gây bất bình trong dư luận từng lớp.

Ban hành tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp cung cấp cho tầng lớp, hệ thống các tiêu chí đánh giá chừng độ hoàn tất và chất lượng thực hiện nhiệm vụ được giao. #, Phát huy các yếu tố hăng hái, hạn chế các mặt trái của cơ chế thị trường. Thứ tư,   những kết quả thực hành chủ trương tầng lớp hóa cung ứng dịch vụ của đơn vị sự nghiệp trong những năm qua là quá chậm, tự phát, chưa đạt được như đích đề ra.

Theo tùng san Nghiên cứu khoa học kiểm toán số 71. Từ những tồn tại, bất cập nêu trên, hoạt động kiểm toán tại các đơn vị này cần đưa ra được các giải pháp để cải tiến hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp theo hướng:  Một là  , cần hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập bằng việc tăng cường phân cấp và thực hành trao quyền tự chủ, tự chịu bổn phận cao hơn cho các đơn vị cả về tổ chức thực hành nhiệm vụ, nhân lực, tài chính theo hướng mở hơn trên cơ sở có tính đến đặc điểm từng loại hình đơn vị, khả năng và nhu cầu thị trường, trình độ quản lý; minh bạch hóa các hoạt động liên doanh, liên kết của các đơn vị sự nghiệp công lập; khắc phục tình trạng công - tư lẫn lộn.

Và rốt cục, vấn đề mấu chốt trong hạch toán là phải tính đúng, tính đủ; điều này liên quan trực tiếp đến các vấn đề học phí, viện phí và các loại phí dịch vụ công khác, bản tính là vấn đề giá của dịch vụ công.

Đơn vị sự nghiệp ra đời đã cho thấy nhiều điểm hăng hái trong việc cung cấp các dịch vụ cho từng lớp, tuy nhiên thực tại cũng cho thấy còn nhiều vấn đề cần phải xem xét, bổ sung để hoạt động cung ứng dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp tại các bộ, ngành ngày càng tốt hơn. Thứ hai,   các đơn vị sự nghiệp theo quy định phải xây dựng Quy chế ăn xài nội bộ, tuy nhiên Quy chế tiêu xài nội bộ phần đông còn nhiều điểm quy định không rõ ràng, chưa bao quát hết nguồn thu, nhiệm vụ chi, quy định phân phối thu nhập chưa gắn với hiệu quả và chất lượng công việc; chưa có quy định về quản lý, dùng tài sản công tham gia hoạt động sinh sản kinh doanh dịch vụ, chưa xây dựng định mức tiêu hao vật tư hóa chất, nhân lực, khấu hao tài sản một mực, tiêu thức phân bổ dụng cụ, dụng cụ hợp với thời gian sử dụng làm cơ sở rà, giám sát và xác định phí của hoạt động sinh sản kinh dinh dịch vụ và chưa ban hành khung bảng giá dịch vụ làm cơ sở ký kết hiệp đồng, quản lý và thanh lý hiệp đồng.

Của người sử dụng dịch vụ. Bốn là  , đổi mới cơ chế tài chính đối với nhóm các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ công có khả năng xã hội hóa cao, tự đảm bảo tất phí tổn hoạt động (các trường đại học, bệnh viện…) theo hướng trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng bộ cả về tổ chức thực hành nhiệm vụ, nhân lực, tài chính, tài sản khi cung cấp dịch vụ gắn với nhu cầu của tầng lớp, được quyết định thu giá dịch vụ trên cơ sở khung giá tính đủ các uổng hợp lý, đúng pháp luật do cấp có thẩm quyền ban hành; được quốc gia giao vốn, xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp; được quyền huy động vốn, dùng vốn, tài sản gắn với nhiệm vụ được giao theo quy định để mở rộng việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, tự quyết định số người làm việc và trả lương trên cơ sở thang bảng lương của quốc gia và hiệu quả, chất lượng công việc.

Thứ năm,   môi trường pháp lý cho việc xã hội hóa và quản lý các hoạt động cung ứng dịch vụ còn nhiều hạn chế, điều ấy gây ra “khoảng trống pháp lý” và sự không đồng đều của hoạt động từng lớp hóa giữa các lĩnh vực khác nhau. Nhiều đơn vị giao khoán cho cá nhân chủ nghĩa hoặc nhóm người không qua đấu thầu với mức thu khoán thấp từ nhiều năm không điều chỉnh, do đó vừa có tình trạng thất thu cho cơ sở và cả quốc gia do không kê khai nộp thuế đầy đủ, vừa ảnh hưởng đến lợi.

Đổi mới cơ chế tính giá đặt hàng sản phẩm, dịch vụ công; nhà nước quy định giá hoặc khung giá sản phẩm, dịch vụ đối với các loại dịch vụ căn bản có vai trò thiết yếu đối với xã hội; từng bước tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý trong giá dịch vụ sự nghiệp phù hợp với thị trường và khả năng của NSNN; xóa bỏ bao cấp qua giá, phí dịch vụ; thực hiện chính sách tương trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách từng lớp, các đối tượng nghèo để được tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản cần yếu với chất lượng cao hơn; đảm bảo lợi ích của các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

Việc kiểm toán hoạt động dịch vụ là một nội dung quan trọng trong vắng kiểm toán tại đơn vị sự nghiệp của bộ, ngành.

Vì thế, khi thực hiện kiểm toán hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp tại các bộ, ngành cần lưu ý một số nội dung sau:  Thứ nhất,   xác định chừng độ tự chủ chưa hạp nên hoạt động dịch vụ không có hiệu quả gây vung phí ngân sách nhà nước: việc lập và xét duyệt đề án tự chủ tài chính tại nhiều đơn vị chưa tính hạnh, xác định đầy đủ các nguồn thu và nhiệm vụ chi, đặc biệt là nguồn thu từ hoạt động dịch vụ dẫn đến xác định chừng độ tự bảo đảm kinh phí của đơn vị chưa hợp lý gây phung phí ngân sách, hồ hết các đơn vị được giao quyền tự chủ tài chính nhưng hàng năm vẫn cấp tăng kinh phí chi liền tù tù trong khi đơn vị có nguồn thu tại đơn vị lớn, đủ trang trải tổn phí tăng thêm.

Việc kiểm toán hoạt động dịch vụ là một nội dung quan yếu trong báo cáo kiểm toán tại đơn vị sự nghiệp của bộ, ngành. Ba là,  hoàn thiện cơ chế đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ công theo hướng ban hành hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn của từng loại hình dịch vụ công. Nhà nước có thể can thiệp trong hai trường hợp: một là, khi giá dịch vụ tính ra cao hơn mặt bằng giá chung, nhà nước dùng phần vốn đã hỗ trợ cho cơ sở (như: nhà cửa, đất đai.

Hai là  , quốc gia cần đấu giữ vai trò chủ đạo, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất các hoạt động sự nghiệp công cơ bản và cơ cấu lại chi bộc trực đối với các hoạt động cung cấp dịch vụ công theo hướng đảm bảo kinh phí hoạt động thẳng thớm đối với các đơn vị sư nghiệp được nhà nước giao nhiệm vụ theo số lượng, chất lượng hoạt động ở các địa bàn vùng núi, vùng xa, hải đảo, vùng dân tộc ít người trong các lĩnh vực sự nghiệp công; chuyển từ giao dự toán cho các đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công như giờ sang thực hiện phương thức đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp không phân biệt cơ sở công lập, ngoài công lập nhằm tạo môi trường thuận lợi, cạnh tranh, đảm bảo phát triển đồng đẳng giữa các đơn vị công lập và ngoài công lập.

Ở một số đơn vị còn khuyến khích chi thưởng cho các tổ chức, cá nhân chủ nghĩa dự tổ chức hoạt động dịch vụ không đúng quy định, tạo cơ chế không sáng tỏ trong triển khai thực hiện. Một số chính sách tầng lớp hóa chưa quy định rành mạch về sở hữu của các cơ sở ngoài công lập, chưa phân biệt rõ sự dị biệt giữa các hoạt động có bản chất lợi nhuận và phi lợi nhuận.

) Để tính giảm bớt giá đầu vào và giữ mặt bằng giá ở mức hợp lý; hai là, với các trường hợp cần thực hiện chính sách công bằng xã hội, không nên bắt các cơ sở phải miễn, giảm phí, gây thất thu và không công bằng giữa các cơ sở. Quốc gia nên thành lập quỹ riêng để giải quyết, không để các cơ sở chịu thiệt.

Thứ sáu,   hoạt động liên doanh kết liên, góp vốn để cung cấp dịch vụ trong các đơn vị sự nghiệp diễn ra khá phổ biến, tuy nhiên bộ, ngành chủ quản chưa có sự chỉ đạo chỉ dẫn thống nhất về quản lý chuyên môn, quản lý tài chính, buông lỏng quản lý, chạy theo số lượng, lạm dụng kỹ thuật để tăng thu, một số đơn vị giao cho công đoàn quản lý hoặc giao khoán cho tổ chức, cá nhân bên ngoài tổ chức kinh doanh, nên có tình trạng tài sản đưa vào dùng không được kiểm định chất lượng, thiếu căn cứ xác định giá trị tài sản, xác định tỷ lệ phân chia lãi cho các bên không hợp lý, chưa tính tình đầy đủ đến ích lợi của người dùng dịch vụ, từ đó dẫn đến phân phối không có cơ sở, bị lợi dụng để thu lời từ người dùng dịch vụ, mức thu dịch vụ vận dụng không hợp lý, trong khi hồ hết các loại hình dịch vụ có thuộc tính đặc thù, người được cung cấp dịch vụ không có nhiều lựa chọn nhưng bộ, ngành chủ quản chưa có sự quản lý về giá, chưa kiểm soát việc xác định mức thu như thế nè hợp, đảm bảo đủ bù đắp chi phí và có tích lũy hợp lý, song song chưa bảo vệ lợi quyền cho cho người dùng dịch vụ.

Vì mục đích lợi nhuận, tư nhân dự hoạt động dịch vụ luôn có xu hướng đẩy giá dịch vụ lên cao, đi kèm với đó là việc xác định giá, cước, phí dịch vụ một cách khá tùy tiện và cơ chế tài chính, chi thu thiếu minh bạch, ảnh hưởng thụ động đến những người hưởng dịch vụ, nhiều dịch vụ còn mang tính tự phát, thiếu điều tra, khảo sát kỹ lưỡng, thiếu chuẩn bị các điều kiện để bảo đảm chất lượng dịch vụ, dẫn đến tình trạng một số cơ sở không duy trì được quy mô ban sơ, thậm chí phải giải tán.

Việc quản lý góp vốn liên doanh của các đơn vị cũng rất hạn chế và lỏng lẻo, có những đơn vị thực hành góp vốn liên doanh trên 51% vốn điều lệ, có quyền chi phối hoạt động song kinh dinh lỗ kéo dài, vượt quá cả phần vốn góp, trong khi quản trị phí tổn yếu kém, mất cân đối thu - chi, làm thất thoát và không bảo toàn được tài sản quốc gia.

Năm là,  quốc gia khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công mua dịch vụ công từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ mà tư nhân có thể làm tốt và giảm được số người làm dịch vụ trong cơ quan nhà nước, như bảo dưỡng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, các phương tiện tin học, đáp ứng nhu cầu về công cụ đi lại, làm vệ sinh và công việc phục vụ trong cơ quan…  Sáu là,  hoàn thiện hơn các phương tiện quản lý và vai trò kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động cung cấp dịch vụ sự nghiệp công nhằm cung cấp tốt hơn cho mọi xã hội quần chúng.

Thứ ba,   một số đơn vị nguồn thu từ hoạt động dịch vụ lại coi như khoản thu phí, lệ phí và bổ sung nguồn kinh phí để sử dụng, không thực hiện hạch toán riêng để có cứ kê khai nộp thuế theo quy định; đối với hoài còn nhiều đơn vị không hạch toán riêng, rõ ràng, minh bạch kết quả hoạt động dịch vụ, do các khoản phí hạch toán lẫn trong uổng hoạt động thẳng tính của đơn vị và một số khoản chi phí chưa tính hoặc không có khả năng tính đúng, tính đủ, do đó không có căn cứ để xác định đúng số thuế phải nộp theo quy định.

No comments:

Post a Comment